THÁNG 4: KHÔNG THỂ NÀO QUÊN!
Hoa-Hoàng-Lan
“Ngày 28 tháng 4 năm 1995
Anh yêu dấu,
Bây giờ đã là tháng 4...
Nhưng là tháng 4 của năm 1995, chứ không còn là tháng 4 của năm 1975 nữa. Trái đất đã quay hai mươi vòng quay tròn trịa chứ không đứng yên một chỗ. Vì thế con người cũng đã quay cuồng trong hai mươi nhịp quay ấy với một tốc độ kinh hoàng và một thay đổi ghê gớm: Anh đã không còn hiện hữu trong nhịp quay ấy nữa. Và em thì
quay tít như một con vụ trong tay một đứa trẻ ham chơi trò quay vụ! Em không dừng được và cũng không muốn dừng. Đành phó mặc cho quả đất quay, số phận quay, và định mệnh quay. Tất cả đều quay, nhưng có một thứ không quay và may mắn thay, em đã làm chủ được nó. Đó là tình yêu của em dành cho anh, vẫn trường tồn và bất biến trong em. Dù đã hai mươi năm qua. Biết bao thay đổi, thăng trầm, biết bao điều đã xẩy ra, và biết bao nhiêu nước mắt đã tuôn rơi. Với em, những dòng nước mắt khóc anh, đã thi nhau giọt dài giọt ngắn trên gối lẻ, và những dòng nước mặn ấy một phần đã được em nuốt ngược vào tim. Bao năm rồi, hình dáng anh vẫn chói lòa trong lòng em. Hai mươi năm qua, một thời gian dài đủ để lãng quên, đủ để mọi chuyện đi vào dĩ vãng. Nhưng với em, trái lại, càng ngày càng mới, và bóng dáng anh vẫn theo dõi em trong suốt năm tháng qua. Em không thể nào quên, lại càng không thể nguôi ngoai nhung nhớ...
Em vẫn nhớ và vẫn ân hận rằng đã không có gì để lại đời với anh. Chúng mình vẫn gần nhau trong gang tấc, nhưng em vẫn nghĩ mình vụng về quá, thơ ngây quá, để đến khi mất nhau rồi, em mới thấy mình đã quá dại dột để mất nhau vĩnh viễn...”
Bây giờ là 28 tháng 4 năm 2011...
Quỳnh đọc lại những dòng nhật ký như một lời thủ thỉ chân thành nhất gửi đến người yêu đã không còn nữa. Ba mươi sáu năm qua, hình ảnh Khoa không một phút phai nhòa trong tâm khảm Quỳnh. Trong tháng 4 năm 1975 ấy, Khoa đã từ chiến trường về với Quỳnh trong tâm trạng hoảng loạn, một thần sắc lạc hồn và một con người chán nản cùng cực. Buổi tối, cả nhà quây quần quanh chiếc radio để nghe tin tức chiến sự. Có tiếng gõ cửa - không, tiếng đập cửa thì đúng hơn - của ai đó. Mẹ của Quỳnh thoáng lo ngại, đưa mắt nhìn mọi người, từ cha đến hai chị em Quỳnh. Rồi nhanh như một con sóc, bà đi ra cửa và hé mắt qua khe cửa để nhìn ra ngoài. Trời tối, ánh đèn điện mờ không đủ soi sáng mặt người, nhưng bà cũng thấy lờ mờ hình bóng một quân nhân. Rất nhanh, bà quay vào, thì thào vừa đủ cho chồng con nghe, nhưng đôi mắt bà hướng vào khuôn mặt của Quỳnh đang căng ra vì hồi hộp:
“Một người lính. Có mở cửa không?”
Mẹ chưa nói dứt câu, Quỳnh đã tuôn chạy ra. Tay nàng nhẹ xoay nắm cửa. Cửa mở vừa đủ cho một người lách vào. Khoa! Khoa ào vào như một cơn lốc. Thân thể tiều tuỵ nhưng đôi mắt sáng quắc. Vịn vai Quỳnh, Khoa cất tiếng chào:
“Thưa ba má. Con mới về.”
“Con từ đơn vị về à? Tình hình ra sao con? Coi bộ có bề gì không?”.
Ba của Quỳnh lo lắng hỏi Khoa, người sĩ quan mới vào làm rể nhà ông - chồng của Quỳnh - đúng chín tháng.
“Tình hình căng lắm ba ạ! Binh lính rã ngũ nhiều lắm. Chúng con có muốn chiến đấu nữa cũng rất khó khăn, vì các cấp chỉ huy đã di tản rồi. Không biết cấp lãnh đạo như thế nào? Không ai ra lệnh cho ai nữa hết. Con về đây như một người đào ngũ!”
Ba của Quỳnh nhíu mày:
“Như thế nghĩa là thế nào? Sao đài BBC vẫn bảo tình hình chiến sự không đến nỗi nào. Bắc quân không tràn ngập miền Nam được. Quân đội ta vẫn làm chủ tình hình.”
“Đó là đài ngoại quốc họ loan tin. Theo con thì chẳng sớm thì muộn, Saigon cũng mất thôi.” Khoa nói vội.
“Nghĩa là chúng ta phải di tản, nếu không muốn bị sống chung với Cộng Sản?”. Ba của Quỳnh gặng hỏi.
Chàng rể lắc đầu chán nản:
“Thưa ba, theo con thì đúng như thế. Con e rằng nếu không nhanh chân thì không kịp. Chúng ta không còn thì giờ lựa chọn nữa.”
Có tiếng khóc oà và tiếng mẹ của Quỳnh hốt hoảng:
“Di tản? Trời ơi, di tản? Mà đi đâu mới được chứ? Mẹ sợ lắm các con ơi!”
Quỳnh vịn vai mẹ, nói lời trấn an mẹ, nhưng cũng để trấn an luôn cả nàng:
“Không sao, mẹ ơi! Người ta sao mình vậy. Hàng triệu người. Mẹ lo gì.”
Một tiếng nổ long trời lở đất. Khoa kinh ngạc la lên:
“Pháo kích! Việt cộng pháo kích!”
Mọi người không ai bảo ai, đều chui xuống gầm bàn và nín thở nghe ngóng. Có tiếng nổ tiếp theo. Vài tiếng xe chạy vội vã trong đêm tối. Khoa ấn vội đôi vai Quỳnh và phủ chụp mình lên người vợ như một hành động che chở, bảo vệ. Quỳnh nép mình trong tay chồng, nghe hơi thở Khoa gấp rút trong lồng ngực chàng, cùng với tiếng tim đập thình thịch của nàng. Không gian im vắng bất thường. Mọi người đều nghe tiếng thở của chính mình. Ba của Quỳnh bò vội ra ngoài, đem vào một chiếc radio. Ông cố bắt làn sóng của một đài ngoại quốc, nhưng không được, chỉ nghe những tiếng động xa vời. Ông lắc đầu chán nản. Khoa thì thào:
“Chúng đã pháo kích vào tới Saigon, như vậy là nguy ngập lắm rồi. Chắc vòng đai an ninh của mình đã bị bỏ ngỏ.”
Mẹ của Quỳnh run giọng hỏi:
“Có khi nào chúng tràn vào thành phố và tàn sát như Tết Mậu Thân ở Huế không con?”
Giọng ba của Quỳnh cáu kỉnh:
“Bà hỏi thế, làm sao thằng Khoa biết mà trả lời? Với Cộng sản thì cái gì mà chúng không dám làm?”
Rồi có tiếng thút thít của bà mẹ. Đêm tối trở nên im lặng đáng sợ. Có tiếng sột soạt trên nóc nhà tôn. Mấy đôi tai căng ra nghe ngóng và sợ hãi. Một con mèo hoang đi kiếm ăn ban đêm và tiếng kêu tìm đực nghe nổi da gà. Mọi người im lặng lên giường cố dỗ giấc ngủ đ ể quên nỗi sợ hãi..
Nhưng…
Đêm thật dài. Có thể dài vô tận, vì không ai dám ngủ. Ai cũng thức và trăn trở trên giường, lo cho vận nước, lo cho mình và lo cho người thân.
Sáng hôm sau, người ta biết tin khách sạn Majectic bị trúng đạn pháo kích. Và khu đường Chi Lăng, góc Ngô Tùng Châu, Phú Nhuận cũng bị đạn pháo kích, có vài người chết. Rồi hình như có cả giao tranh ở Lăng Cha Cả, ở Ngã Tư Bẩy Hiền, ở trại dù Hoàng Hoa Thám.
Một đêm. Hai đêm. Rồi ba đêm. Đêm thứ tư, Khoa quyết định sáng mai sẽ bung ra ngoài tìm đường thoát thân. Chàng ân cần dặn dò Quỳnh thật kỹ. Quỳnh run lên trong vòng tay của Khoa. Cô gái mới lấy chồng được chín tháng, đã linh cảm được sự chia lìa sắp đến, cố khắc ghi lời căn dặn của chồng vào lòng. Đã ba đêm qua, họ nằm bên nhau như những người bạn, thể xác không một chút rung cảm, và đòi hỏi ái ân đã lịm tắt theo tiếng đạn pháo kích nổ ngoài kia. Hôn lên mái tóc dài của Quỳnh, người lính chiến đã dặn dò vợ:
“Chắc anh phải tìm đường thoát, vì lệnh của ông Thiệu không cho đàn ông con trai cỡ tuổi anh ra khỏi nước. Anh đi rồi, khi có lệnh di tản, ba mẹ và hai em sẽ đi dễ dàng theo họ. Rồi mình sẽ gặp nhau bên ấy. Mỹ hay Úc, hay gì cũng được. Kể cả Thái Lan hay Phi Luật Tân, miễn là ra khỏi nước. Em nhớ điều ấy.”
Quỳnh nghẹn ngào:
“Lỡ lạc nhau?”
Khoa cương quyết:
“Đi đâu mà lạc? Chắc chắn chính quyền phải tổ chức di tản dân như miền Bắc đã di cư năm 1954. Khi ấy, cả nhà sẽ gặp nhau. Anh sẽ tìm đường đi thoát, hoặc ra biên giới với đám quân đội còn lại. Cuối cùng, mình cũng sẽ gặp nhau.”
Rồi ngập ngừng, Quỳnh đề nghị:
“Em muốn anh cho em đứa con. Hôm nay, thời kỳ an toàn của em đã hết. Em có thể có thai. Em muốn...”
Nỗi rạo rực chợt đến với Quỳnh. Người vợ trẻ ghì chặt thân hình của chồng. Khoa âu yếm ôm sát vợ vào lòng và khẽ khàng nói:
“Anh cũng định thế. Nếu được, hơn chín tháng sau, chúng ta đã là cha mẹ và anh cũng yên tâm hơn, phải không?”
Quỳnh nũng nịu:
“Anh đặt tên cho con đi!”
Vuốt ve tấm lưng của Quỳnh, Khoa chợt mơ màng:
“Anh đã có tên rồi. Nếu là con trai, anh sẽ đặt là Quỳnh Lâm. Nếu con gái, sẽ là Quỳnh Giao. Trai hay gái, cũng lấy tên của em làm chữ lót cho con. Được không?”
Rúc đầu vào ngực Khoa, Quỳnh hài lòng:
“Anh đặt sao thì em giữ nguyên như thế.”
Chợt một tiếng “ành” chát chúa đạn pháo kích 122 ly của Việt cộng bắn vang lên, rung động hết cả mọi thứ: tường vách rung lên, giường chiếu cũng rung lên và mái nhà thì rào rào như mưa cát. Có tiếng la thất thanh ở thật xa. Quỳnh nghe tiếng hét của mẹ nàng và tiếng chạy tất bật của cha cùng em gái. Nàng cũng cùng Khoa lăn vội xuống đất. Sau tiếng nổ long trời lở đất ấy, thì mọi người đều tỉnh hẳn, không ai còn ngái ngủ nữa. Những con mắt căng tròn vì lo lắng, mong cho trời mau sáng. Khoảng nửa đêm, mọi người lại bảo nhau lên giường tìm chút giấc ngủ để ngày mai có sức mà lo toan công việc. Khoa và Quỳnh mệt mỏi, thiếp đi trong một giấc mơ đẹp đầy hạnh phúc, không có chia ly và chết chóc.
Đêm sau, giặc lại pháo kích vào khu phi trường Tân Sơn Nhất . Rồi ông Vũ Văn Mẫu đuổi DAO về nước và Mỹ đã rút ra hạm đội, bỏ mặc cho quân đội Việt Nam với mớ bòng bong của đất nước.
Buổi sáng, không phải vì thiếu ly cà phê như thường lệ mà ba của Quỳnh đăm chiêu khác thường. Ông lo lắng vì tình hình chiến sự cùng những quả đạn pháo kích trong thành phố khiến ông không một chút hy vọng tươi sáng ở quân lực hùng hậu của đất nước ông. Ông biết Khoa đã từ giã vợ và chào cha mẹ vợ, rồi theo đoàn người hốt hoảng nhào ra bến Bạch Đằng để tìm đường ra khơi. Quỳnh như ngây dại khi nhớ đến lời hứa “cho con” của Khoa chưa kịp, thì đạn pháo kích đã rơi xuống thành phố, khiến cho kế hoạch của Khoa và Quỳnh đành bỏ dở. Quỳnh càng hốt hoảng khi đêm đến, không thấy Khoa trở về. Nàng không tin Khoa đã ra khơi di tản dễ dàng như thế. Nhưng nàng nghe kể cứ tràn ra bến Bạch Đằng, thế nào cũng đi được. Đa số là đàn ông con trai, chứ phụ nữ như Quỳnh ai mà dám liều lĩnh. Có người dặn cha mẹ đi một lát về, rồi xuống tầu đi luôn. Có người bán xôi, theo chân người ta bán xôi ở bến tầu, cũng tràn lên tầu và đi lọt. Sau này, nghe kể chuyện, Quỳnh ngẩn ngơ hỏi:
“Thế tại sao Khoa lại không dẫn nàng và gia đình đi theo nhỉ?”.
Đặt câu hỏi, nhưng Quỳnh không thể trả lời được. Nhưng kể từ đấy, Quỳnh đã mất tin tức của Khoa. Không ai gặp chàng đâu nữa. Nhiều người biết rằng Khoa đã chết. Và Quỳnh đơn côi kể từ ngày ấy của tháng 4.
Tháng 4: Quỳnh không thể nào quên được cái nhục của ông tướng hèn Dương Văn Minh - con cháu của Lê Chiêu Thống “cõng rắn về cắn gà nhà” mà sử sách đã ghi - đã vội trao “ấn kiếm” cho phe bên kia vào chiếm thành
phố, khiến cho những tướng tài ba, anh hùng như Tướng Nguyễn-Khoa-Nam, Tướng Lê-Văn-Hưng, Tướng Lê-Nguyên-Vỹ, Tướng Trần-Văn-Hai, Tướng Phạm-Văn-Phú và Tá Hồ-Ngọc-Cẩn đã chết theo thành, để khỏi sa vào tay giặc. Quỳnh cũng không thể nào quên được cảnh đói khổ của toàn dân Saigon, vựa lúa của miền Nam mà nay phải ăn độn khoai sắn kinh hoàng. Quỳnh cũng không thể nào quên được bao nhiêu tinh hoa của đất nước đã kéo nhau vượt trùng dương, ra nước ngoài và số còn lại mang thân lưu đầy trên rừng núi. Năm tháng qua, thời gian lạnh lùng trôi, nhiều người đã nằm xuống, thôi không còn trăn trở với hiện tình đất nước và nỗi mất quê hương đã không còn khiến họ quên ăn mất ngủ.
Tháng 4: Quỳnh không thể nào quên Khoa muốn để lại cho nàng một đứa con. Nhưng đêm cuối cùng, anh đã không kịp thi hành nghĩa vụ làm chồng và Quỳnh đã không được đòi hỏi Khoa phải thực hiện công tác truyền giống ấy trước khi Khoa đi vào nơi gió bụi. Để bây giờ, dù muốn dù không, Khoa đã không còn gì để lưu lại với đời. Quỳnh không nguôi ân hận và càng không thể nào quên những ngày tháng không thể nào quên ấy.
Tháng 4!!!
Không thể nào quên!!!
Hoa-Hoàng-Lan