Xin Chào Vị Khách Thứ
SEARCH
    Diễn-Đàn
7/31/2009 8:42:57 PM  

 Dân Biểu Mỹ Yêu Cầu Đưa CSVN Vào CPC

(Lê Minh lược dịch từ Epoch Times).

                   

Washington - Các tổ chức nhân quyền và một số dân biểu Hoa Kỳ đang yêu cầu đưa Việt Nam trở lại danh sách “Quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC), mà theo đó có thể cho phép Hoa Kỳ đưa ra một số cấm vận kinh tế để áp lực Hà Nội phải cải tiến hồ sơ nhân quyền. Ba lĩnh vực được nhắc đến là hồ sơ tự do tôn giáo của Việt Nam, nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em, và quyền công đoàn.

Mặc dầu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã từng đưa Việt Nam vào danh sách CPC trong những năm từ 2004 - 2006, nhưng hiện tại thì không. Chính phủ Obama đang tạo điều kiện cho việc đưa Việt Nam trở lại CPC.

Để tìm hiểu các tiến triển mới đây ở Việt Nam, Ủy Ban Nhân Quyền Quốc Hội Hoa Kỳ đã mở một phiên điều trần hôm 23/07 vừa qua về các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam. Ủy Ban bao gồm một tập hợp các thành viên quốc hội nổi tiếng trong lĩnh vực nhân quyền như dân biểu Chris Smith, Ed Royce, James McGovern, Cao Quang Ánh, Dana Rohrabacher, Loretta Sanchez, Zoe Lofgren, Tom Wolf và Joe Pitt.

Trong phòng họp ở điện Capitol người ta có thể nghe được các dân biểu thay nhau trút cơn thịnh nộ về các chính sách tôn giáo và lao động của Việt Nam, và cũng bày tỏ bực bội qua việc Bộ Ngoại Giao đã không tỏ ra cương quyết đối với Việt Nam. Họ cũng tỏ ra hoài nghi đối với lời tuyên bố mới đây của ông Đại sứ Michael Michalak rằng “thiếu bằng chứng” để đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC.

Dân biểu Ed Roye nói “Khi đặt Việt Nam vào danh sách CPC thì thấy có tiến bộ. Thật không may, sau khi được đưa ra khỏi danh sách quá sớm vào năm 2006 thì Việt Nam lại tăng cường sự ngược đãi”.

Còn dân biểu Chris Smith thì nói rằng “Thật không may vì đại diện của Bộ Ngoại Giao không có mặt tại đây hôm nay. Tôi cũng rất mong có cơ hội chất vấn vì sao chính phủ Hoa Kỳ không trực diện với vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam và các nơi khác. Tôi mong rằng Bộ Ngoại Giao sẽ xem xét các khía cạnh được thảo luận trong buổi điều trần hôm nay”.

Dân biểu Smith là người đã ba lần đưa ra các dự luật ở Hạ Viện, gần đây nhất là dự luật Nhân Quyền Việt Nam 2009 (viết tắt là HR 1969), mà theo đó có thể cấm chính phủ Hoa Kỳ viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam vượt mức định tính theo tài khóa 2009, trừ phi đích thân Tổng thống phải xác nhận trước Quốc hội rằng chính phủ Việt Nam đã đạt được tiến bộ đang kể đối với việc trả tự do cho các tù chính trị và tôn giáo, và quyền tự do tôn giáo, kể cả việc hoàn trả tài sản của các giáo hội.

Vấn đề nhân quyền trở nên tồi tệ hơn trong vòng hai năm qua

Các thành viên của Ủy Ban đã lắng nghe điều trần của ông Michael Cromartie, phó chủ tịch Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ (USCIRF), một chuyên gia về vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam. Ủy Ban USCIRF vừa mới trở về từ Việt Nam vào tháng 5, là chuyến đi lần thứ tư kể từ năm 2003. Ông Cromartie cũng là người đã từng đến Việt Nam vào năm 2007 và 2009, đã cho biết trong buổi điều trần rằng, theo thiển ý của ông thì “các điều kiện về nhân quyền và tự do tôn giáo (ở Việt Nam) đang trở nên tồi tệ hơn trong vòng hai năm qua”.

Ông Cromartie nói tiếp: “Những nhóm bị nhắm đến là Giáo hội PGVNTN, Giáo hội Hòa Hảo và Cao Đài, các nhóm sắc tộc và Tin Lành chưa đăng ký, Công giáo..., cũng như các luật sư bảo vệ nhân quyền.

Trong tuần này chúng ta cũng thấy rằng ngay cả những giáo dân cầu nguyện một cách ôn hòa cũng bị chính phủ Việt Nam xem là một thách thức của chế độ, rồi sử dụng bạo lực và bắt họ. Như quý vị đã biết, cách đây 2 ngày, có 18 giáo dân bị bắt giữ ở Quảng Bình”.

Ông Cromartie còn thuật lại rằng công an đã ngăn chận các ngõ đường dẫn đến một số nhà đối kháng và cộng đồng tôn giáo, và thâm chí họ còn dàn cảnh tai nạn giao thông xe tải để ngăn chận phái đoàn đến gặp gỡ các nhóm Tin Lành người H'mông.

Dân biểu Ed-Royce cũng cho biết: “Mục sư Nguyễn Công Chính đã từng bị thẩm vấn hơn 300 lần và 20 lần bị đánh đập hành hung. MS.Chính là một vị lãnh đạo tinh thần của giáo phái Tin Lành Mennonite và các nhóm Tin Lành khác ở Việt Nam”.

Dân biểu Ed-Royce còn nói: “Chỉ mới cách đây mấy ngày thôi, ông ta phải trốn khỏi nơi cư trú để trốn tránh sự hành hạ của công an”. Ngay khi ông vừa nói dứt câu vừa rồi, thì có một cử tọa bên dưới đưa lên một tấm hình cảnh MS.Chính bị đánh đập tàn nhẫn, và ông Royce lại nói tiếp rằng MS.Chính đã trở thành “biểu tượng của vấn đề đàn áp tôn giáo ở Việt Nam từ nhiều năm nay”.

Việt Nam cho phép Ủy Ban USCIRF có một số cuộc gặp ngắn ngủi để tiếp xúc với Lm.Nguyễn Văn Lý, Ls. Nguyễn Văn Đài, và Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ. Mặc dầu ngợi khen việc cho phép gặp gỡ, nhưng ông Cromartie cũng ghi nhận là Cha Lý vẫn bị biệt giam và LS.Đài vẫn bị đòi hỏi ký vào bản nhận tội là điều kiện tiên quyết để được thả. Cha Lý đã bị biệt giam suốt 18 tháng

Ông Cromartie cũng lưu ý rằng viên quản giáo nơi giam giữ Cha Lý đã liên tục cáo buộc vị linh mục này là tù nhân “chính trị”. Trước đây tại phiên tòa, người ta đã quy chụp Cha Lý là tù nhân “chính trị” chứ không phải là tù nhân tôn giáo, và vì thế Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ không thể nào xem việc giam tù Cha Lý là một vi phạm nhân quyền trầm trọng.

Dân biểu Ed Royce cũng nêu danh tánh 350 tù nhân “chính trị”, mà thật ra là người Thượng theo tôn giáo Tin lành, và cũng vì thế mà Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ không có cớ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC. Ông Cromartie cũng xác nhận là sau chuyến đi vừa rồi, thì Việt Nam vẫn còn giam giữ hàng trăm người Thượng theo Tin Lành. Đó là số người bị bắt giam sau những cuộc biểu tình đòi tự do tôn giáo trong khoảng 2001 và 2004.

Dân biểu Ed Royce đã nhắc lại là HT. Thích Quảng Độ, vị lãnh đạo của Giáo hội PGVNTN đã bị quản thúc 33 năm nay. Ngài đã từ chối liên kết Giáo hội PGVNTN với Giáo hội Phật giao do nhà nước nặn ra. Theo Tạp chí Nhân Quyền VN cho biết, Ngài cũng từng nói với một vị chức sắc Lãnh sự Hoa Kỳ rằng “chúng tôi sẽ không bao giờ quy phục, chúng tôi sẽ không bao giờ cam chịu làm nô lệ cho Đảng Cộng sản”.

Công an đe nạt các tân tòng

Ông Cromartie cho biết, Việt Nam tuy có tiến bộ trong việc chính thức chấm dứt ép buộc bỏ đạo, mặc dầu tai nhiều địa phương vẫn còn xảy ra, bất chấp luật pháp. Nhưng việc áp bức tôn giáo ở các tỉnh lẻ không chỉ vì các viên chức chính quyền thiếu khả năng, mà là Việt Nam hiện nay đã thay đổi chiến lược để đàn áp tôn giáo.

Dân biểu Royce nói rằng: “Việc ép buộc bỏ đạo được thay thế bằng các cơ chế như tra tấn, đánh đập, giam tù và giết người. Thay vì bắt ép buộc chối bỏ niềm tin tôn giáo, nhà cầm quyền Việt Nam buộc người Thượng phải gia nhập các giáo phái đã được nhà nước chuẩn y, mà ở những nơi đó người ta bị theo dõi, kiểm soát và nếu cần thì bắt ngay và bỏ tù,.... và hôm nay Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nên có mặt tại đây để giải thích các hành động này”.

Nhận thấy rằng khó có thể cấm đạo, cho nên chế độ cộng sản đã cho thực thi một chính sách kỳ thị đối với các cộng đồng tôn giáo và những người mới vào đạo.

Ông Cromartie nói rằng Ủy Ban của ông có những văn bản nhà nước, là những chỉ thị cho các quan chức địa phương cách thức “quản lý và kiểm soát các hoạt động tôn giáo” và áp lực những người mới vào đạo Tin Lành từ bỏ niềm tin tôn giáo.

“Tại nhiều nơi ở Việt Nam, công an hăm dọa và cảnh cáo những người mới vô đạo không được tiếp tục các hoạt động tôn giáo, đe dọa cắt bỏ các quyền lợi hoặc mất việc”. Ông Cromartie nói rằng đây không phải là vấn đề cá thể, mà thực ra là chính sách nhà nước hẳn hòi, nhất là đối với các tín hữu Tin Lành và một số tín đồ Phật giáo.

Chính quyền Việt Nam đồng lõa trong việc mua bán lao động

Một trong những lý do cho buổi thuyết trình hôm nay về Việt Nam là việc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vừa mới cho công bố bản báo cáo năm 2009 về “Nạn buôn người”, trong đó nêu rõ rằng “Việt Nam là nguồn và điểm đến cho nạn buôn bán đàn ông, phụ nữ và trẻ em để cưỡng bức lao động và buôn bán tình dục”.

Các vị dân biểu cũng nghe phần trình bày của Ts. Nguyễn Đình Thắng của Ủy ban Cứu nguy Người Vượt Biển (Boat People SOS). TS. Thắng nói rằng Việt Nam là một trong số ít quốc gia hiếm hoi xuất cảng lao động mà chế độ lại bảo kê cho những kẻ buôn người. Việt Nam không cho phép báo chí truyền thông tường thuật các vụ buôn người và “từ chối không cho các tổ chức thiện nguyện Phi-Chính phủ (NGO) tiếp xúc với các nạn nhân sau khi hồi hương”. Đúng ra Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phải xếp hạng Việt Nam vào nhóm quốc gia nằm trong bậc 3, thay vì bậc 2 như hiện nay - bởi vì “sự đồng lõa của nhà nước trong nạn buôn bán lao động”.

“Trong một số trường hợp, chính phủ Việt Nam đã thông đồng với bọn buôn người để ngăn chận các nạn nhân lên tiếng thông qua hệ thống pháp lý tại nước sở tại”.

Ts. Thắng đã thuật lại câu chuyện của nhóm công nhân Việt được đưa đến Jordan vào năm 2008 để làm việc tại một phân xưởng may mặc của người Đài Loan. Họ bị bắt buộc làm việc 16 tiếng/ngày mà chỉ được trả một phần nhỏ so với những gì mà họ đã được hứa. Khi họ đình công, thì viên đại diện người Việt của công ty xuất khẩu lao động đã điện thoại cho cảnh sát Jordan đến đánh đập, lôi kéo những người công nhân này trở lại làm việc, và giam giữ họ tại nơi sinh hoạt và từ chối cung cấp thuốc men, không đưa đi chữa trị.

Ts. Thắng cũng cho biết, Bộ Lao Động Việt Nam đã tìm cách nhận diện và cách ly những người cầm đầu cuộc đình công để giải giao họ về Việt Nam, và buộc những công nhân còn lại phải trở lại làm việc, nhưng viên đại diện người Việt của công ty xuất khẩu lao động không thể cách ly được những người cầm đầu cuộc đình công. Tổ chức Hỗ trợ Di dân Quốc Tế (IOM) và Bộ Lao Động của Jordan đã ra tay cứu họ, và rồi cuối cùng đa số các công nhân được hồi hương. Rất nhiều người trong số này đã đưa thỉnh nguyện yêu cầu chính phủ Việt Nam phải điều tra công ty xuất khẩu lao động nhưng nhiều lần họ bị chính phủ ngăn cản hoặc đe dọa.

Buổi thuyết trình cũng nhắc đến bản báo cáo năm 2009 của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Thế giới (HRW), có tựa đề “Chưa phải là thiên đàng của giới lao động: Việt Nam trù dập phong trào công đoàn độc lập”, và bà Sophie Richardson, vị giám đốc phân bộ Á Châu của HRW cũng tường trình về vấn đề này.

Bản báo cáo dài 31 trang mô tả tình trạng xáo trộn lao động gia tăng ở Việt Nam, mà theo thống kê của nhà nước là số lượng đình công trong năm 2008 tăng 20% so với năm 2007. Hầu hết 650 cuộc đình công (con số tối thiểu) đều là tự phát, và trái với luật pháp của nhà nước. Tại Việt Nam, tất cả các cuộc đình công đều phải được phép của Tổng Liên Đoàn Lao Động VN, là cánh tay ngoại vi của Đảng Cộng sản.

Phong trào công đoàn độc lập nổi lên trong khoảng năm 2006-2007 đã bị dập tắt bằng việc bắt bớ giam cầm tối thiểu tám lãnh đạo của tổ chức này.

Bản báo cáo của HRW còn nêu rõ: “Các thành viên lãnh đạo khác bị hăm dọa, trù dập, và bị buộc phải chấm dứt hoạt động, hoặc phải trốn khỏi Việt Nam... các lãnh đạo công đoàn độc lập ... được xem là mối đe dọa đối với Đảng Cộng sản bởi vì họ có khả năng thu hút, tập hợp và lôi kéo được nhiều người”.